Tác giả

 

HÀ KỲ LAM

Vài dòng thân thế

1.    Thời kỳ dân sự: Làm nhà giáo một thời gian ngắn (Hội An, Quảng Nam, 1960).

2.    Thời kỳ quân ngủ: Xuất thân khóa 13 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, tốt nghiệp khóa 7-74 Bộ Binh Cao Cấp Hoa Kỳ. Binh chủng phục vụ lâu nhất là Lực Lượng Đặc Biệt.
•    1963: Trung Đội Trưởng, Tiểu Đoàn 2/40, Sư Đoàn 22 bộ binh, Dak Rota (Kontum).
•    1964: Đại Đội Trưởng, căn cứ biên phòng Lực Lượng Đặc Biệt Khâm Đức (Quảng Nam).
•    1965: Đại Đội Trưởng, căn cứ biên phòng Lực Lượng Đặc Biệt Khe Sanh (Quảng Trị).
•    1966: Chỉ Huy Phó căn sứ biên phòng Lực Lượng Đặc Biệt A Shau (Thừa Thiên).
•    1966: Chỉ Huy Phó căn cứ biên phòng Lực Lượng Đặc Biệt Dak Sang (Kontum).
•    1967-1968: Chỉ Huy Trưởng căn cứ biên phòng Lực Lượng Đặc Biệt Plei Me (Pleiku).
•    1968: Chỉ huy trưởng căn cứ biên phòng Lực Lượïng Đặc Biệt Ban Het (Kontum).
•    1968-1969: Chỉ Huy Trưởng căn cứ biên phòng Lực Lượng Đặc Biệt Polei Kleng (Kontum).
•    25-4-1970: Kết hôn với người bạn đời Nguyễn Thị Nhơn tại Sài Gòn. Có hai con: trai (1971), gái (1973).
•    1970: Tiễu Đoàn Trưởng tiểu đoàn 81 Biệt Động Quân biên phòng, Đức Cơ (Pleiku).
•    1971-1974: Phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Quân Khu 3, lưu động trên các vùng Củ Chi, thuộc Hậu Nghĩa, Bến Cát, Lai Khê, Bầu Bàn, thuộc Bình Dương,  Tống Lê Chân, thuộc Bình Long, và thị xã Tây Ninh, thuộc Tây Ninh.
•    1974-1975: Du học Mỹ.
•    Đầu tháng 4/1975 về nước.

3.    Sau tháng 4, 1975: Sáu năm ở các trại tập trung dưới chế độ cộng sản Việt Nam, từ Nam ra Bắc:
•    Trại tập trung Biên Hòa (1 năm)
•    Trại tập trung Sơn La, tây bắc Hà Nội (3 năm)
•    Trại tập trung Yên Báy, bắc Hà Nội (3 tháng)
•    Trại tập trung Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh, (2 năm)
•    Được phóng thích tại Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh ngày 1-1-1981.

Hà Kỳ Lam cùng gia đình trốn khỏi Việt Nam bằng đường biển ngày  9 tháng 5 năm 1981 từ một khu rừng bần ven biển ở Đại Ngãi, Sóc Trăng. Sau ba ngày lênh đênh trôi dạt trên một chiếc ghe nhỏ không có mui, không nước uống, không thực phẩm, cả gia đình cùng 47 người trên ghe được thương thuyền Tour Ville của công ty hàng hải Pháp Chargeurs Réunis cứu trên hải phận quốc tế giữa Nam Dương và Việt Nam ngày 13-5-1981. Tàu Tour Ville cập bến Singapore ngày 14-5-1981, và bàn giao những thuyền nhân cứu được cho Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), để cơ quan này đảm trách việc tái định cư họ tại một nước thứ ba. Gia đình Hà Kỳ Lam đến Mỹ ngày 20-10-1981, và hiện định cư tại tiểu bang New Jersey.

4.    Bắt đầu viết từ giữa năm 1991. Tác phẩm:
•    Vùng Đá Ngầm, tập truyện (Thế Kỷ 1994)
•    Núi Vẫn Xanh, tập truyện (Thế Kỷ 1998)
•    Những Nẻo Đường Thế Giới, ký sự (sắp ra mắt độc giả)

VÀI HÌNH ẢNH VỀ HÀ KỲ LAM

 

Thời kỳ dân sự: nhà giáo (1960) 

       Đầu đời quân ngủ (1964)

Một lúc dừng quân (Khe Sanh, Quảng Trị, 1965)

Hà Kỳ Lam tháng 12/1968

Hà Kỳ Lam và cố vấn Mỹ duyệt một kế hoạch hành quân. Bức hình do phóng viên báo Green Beret chụp tại trại Lực Lượng Đặc Biệt Polei Kleng, Kontum, tháng 7, 1969. Báo của Anh, Vietnam Airborne Units, in lại bức hình trên từ báo Green Beret, nhưng ghi chú niên đại không chính xác.

Tại căn cứ biên phòng Lực Lượng Đặc Biệt Polei Kleng, Kontum, 1969

Hà Kỳ Lam, chỉ huy trưởng căn cứ biên phòng LLĐB Polei Kleng, Kontum (1969)

25-4-1970: ngày đáng nhớ; Hà Kỳ Lam kết hôn với người bạn đời Nguyễn Thị Nhơn

Bà con hai họ dự đám cưới Hà Kỳ Lam-Nguyễn Thị Nhơn ngày 25-4-1970 tại Sài Gòn

Hà Kỳ Lam và Nguyễn Thị Nhơn thời chưa cưới (phòng trà Olympia, Sài Gòn 1-11-1969)

Thời mới cưới (Quán Dừa ven xa lộ Biên Hòa 1970)

Thời mới cưới (Biển Hồ, Pleiku, tháng 5/1970)

Thời mới cưới (Biển Hồ, Pleiku, tháng 5/1970)

Hà Kỳ Lam trong cương vị Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 81 Biệt Động Quân biên phòng (Đức Cơ, Pleiku), tiếp đón thượng cấp viếng thăm đơn vị ngày 11-1-1971.

Hà Kỳ Lam trong rừng Đức Cơ (tháng 11/1970)

Hà Kỳ Lam và đứa con đầu lòng (tháng 7/1971)

Hà Kỳ Lam tại Trường Bộ Binh Hoa Kỳ (USAIS) ở Ft. Benning, GA, tháng 12/1974

Hà Kỳ Lam và vợ trên biển Địa Trung Hải ngày 7-5-2009

 Hà Kỳ Lam ngày 9-10-2012