Ðêm Cửa Ðại

by admin posted December 27, 2011 category Núi vẫn xanh, Truyện ngắn

Thương tặng Hội An

Một chiều cuối năm lạnh giá và ảm đạm ở ngoại ô
Paris, hai bà cháu người Việt – một cô gái mười tám và một
bà cụ trên bảy mươi – ngồi tâm sự chuyện đời, chuyện nắng mưa
trên xứ người. Xứ người! Gọi như thế chỉ đúng với bà cụ, và
không đúng với cô gái, vì cô sinh ra và lớn lên trên đất
Pháp này. Tuy có một khoảng cách thế hệ và một khoảng cách
văn hóa giữa hai người, Natalie, cô cháu, lại rất gần gũi,
khắng khít với bà ngoại của cô, một điều hiếm thấy ở những
gia đình Việt di dân trong đó thế hệ thứ hai và thứ ba sinh đẻ
và lớn lên ở xứ người.
Nhưng bỗng dưng câu chuyện hôm nay giữa hai bà cháu lại
rẽ một lối bất ngờ làm bà già bỗng thẩn thờ; nếu không
gượng giấu xúc động, có thể bà ta đã ngộp thở, đã ngất xỉu
cũng nên. Cô gái kể cho bà về một đám giỗ trong một gia đình
Việt Nam ở tỉnh Narbonne tận miền Nam mà cô tham dự tuần trước.
Cô kể lại câu chuyện tình của người đàn ông quá cố do gia
chủ thuật hôm đó. Cô biết đại khái nhân vật nam trong câu
chuyện vừa từ giã cõi đời năm ngoái tại Sài Gòn, rằng ông
ta đã có mối tình đầu tại Hội An trong thời gian làm thủy thủ
trên một ghe buôn. Duyên nợ không thành vì cha mẹ cô gái ngăn
chận cuộc tình của đôi lứa. Người đàn ông đau buồn, bỏ thành
phố, đi xa, và đã kết hôn với một người khác. Không nghe đề
cập đến nhân vật nữ trong chuyện tình dang dở kia, ngoại trừ
một chi tiết về sắc đẹp khuynh thành của bà. Natalie bỗng cảm
thấy bối rối, chẳng hiểu vì sao những điều cô nghe kể trong
một đám giỗ tại nhà một người bạn đồng bào với mình lại làm
bà ngoại cô có vẻ phiền muộn và quan tâm. Chắc tại tên quê
hương được nhắc tới. Cô hy vọng thế.
Nhưng với bà Dung, mối tình đầu trên nửa thế kỷ qua nằm
sâu trong lòng như một giòng suối ngầm, nay bất chợt được khơi
dậy đã chảy lộ thiên và lai láng. Không nghi ngờ, bà đoan
quyết gia đình ở Narbonne kia có gốc rễ, mối mớ với cố nhân
của bà. Bà có nên dò tìm ngọn nguồn của họ chăng. Từ sâu
thẳm trong lòng, bà Dung nghe như có câu trả lời, vô ích, để
làm gì. Thế là cố nhân của bà đã giã từ cõi đời lắm đau
thương, lắm phong ba bão táp này đúng một năm rồi. Người nằm
xuống tận phía Nam, không phải tại làng Phước Trạch, nơi bà đã
nhìn Người ra đi. Lần tiễn đưa là lần cuối gặp nhau. Ôi Phước
Trạch, dãi đất quê xưa giờ ra sao? Người chỉ chúc cho bà mọi
sự may mắn ở quê nhà, và mong bà chóng quên người ra đi… Ký
ức của năm mươi năm về trước lại rõ ràng như mới hôm qua,
lại có thể làm sụt sùi cõi lòng tưởng đã chai cứng từ lâu.
Cuộc hôn nhân đằng đẵng ba mươi bảy năm với người đàn ông dị
chủng quê ở ngoại thành Paris lại chẳng để lại bao nhiêu dấu
ấn sâu đậm trong lòng bà. Bà Dung bỗng thèm được một lần về
thăm quê xưa, thèm mãnh liệt. Nếu không có diễm phúc được
gởi nắm xương tàn ở quê nhà, bà ước ao ít ra một lần thấy
lại quê cũ. Bà cũng chẳng hiểu lắm ước muốn của mình. Ðể
làm gì? Có còn gặp được cố nhân nữa đâu. Nhưng còn họ hàng
thân thuộc, ai còn, ai mất, và cảnh cũ với bóng hình người xưa
– chỉ là bóng hình thôi sao! Nhưng dù sao, đó vẫn là nỗi khắc
khoải trong lòng bà Dung chiều nay. Natalie không dằn được câu
hỏi:
– Ngoại làm sao vậy? Bỗng dưng con thấy Ngoại không được
vui.
Bà Dung thoáng bối rối. Phải chi Ngoại kể được với con
về người đàn ông trong câu chuyện con nghe! Nhưng thôi. Có thể
một ngày kia con hiểu. Có thể chẳng bao giờ con biết được
Ngoại có một quá khứ nằm trong từng góc của cái quá khứ bên
kia biển mà Ngoại vẫn hay kể cho con nghe, mà trí tò mò của con
không ngừng tìm kiếm qua hàng loạt câu hỏi – những câu hỏi có
khi làm Ngoại lúng túng, bởi vì chúng chạm tới lớp sâu kín
của ký ức mà Ngoại không muốn khơi dậy. Bà Dung nhếch mép
thành một nụ cười, và xoa đầu cô gái:
– Ngoại nhớ Phước Trạch với hình ảnh đoàn ghe bầu thả
neo ở Cửa Ðại, Ngoại nhớ con sông Thu Bồn với những bờ cát
vàng hay ruộng dâu xanh mướt đôi bờ. Khi nào con ra trường, có
việc làm, con có thể đưa Ngoại về thăm lại làng Phước Trạch
không? Ba má con thì đầu tắt mặt tối cũng chỉ nối được hai đầu
tháng.
– Oui, Bà Ngoại. Con sẽ để dành tiền, và bà cháu mình
sẽ về Phước Trạch, Hội An. Ngoại sẽ dẫn con đi thăm những nơi
Ngoại vẫn kể cho con nghe, phải không Ngoại?
– Ừ, bà cháu mình sẽ về thăm Việt Nam.
*****
Năm năm sau cái buổi chiều cuối năm ngoại ô Paris mà
Natalie và bà ngoại cô ngồi nói với nhau về giấc mơ hồi
hương…
Ðời sống vẫn chuyển dịch bình thường. Vâng, nhịp độ đời
sống vẫn bình thường với tuổi trẻ, nhưng với tuổi già, năm
năm trong nhịp độ gia tốc của sự rơi thì quá nhiều! Bà Dung
không chờ Natalie được. Bà đã rơi tới đích: bà đã từ trần
được hai năm rồi. Mộ bà nằm cạnh mộ chồng, ông Russel, tại
nghĩa trang thị trấn Lognes, ngoại ô Paris. Natalie rưng rưng nước
mắt khi nhận được thư của Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học, và Văn
Hóa Liện Hiệp Quốc báo tin cô đã được chấp thuận làm việc
tại Việt Nam. Bà Ngoại ơi, cuối cùng con đã hoàn thành mọi sự
để có thể về quê hương thì thiếu Ngoại!
UNESCO đã gửi phái đoàn đầu tiên đến Hội An từ khi
chiến tranh kết thúc năm 1975 để nghiên cứu kế hoạch trợ giúp
bảo tồn đô thị cổ này, và Natalie đã tháp tùng với tư cách
chuyên viên, vì ngoài điều kiện tốt nghiệp học viện Ngôn Ngữ
và Văn Minh Ðông Phương, cô dễ được tổ chức này thu dụng hơn
các ứng viên khác vì yếu tố chủng tộc. Về phần mình, Natalie
thấy giòng máu lai Việt đến ba phần tư trong huyết quản cô
cũng chẳng là cái gì xứng hợp với công tác như họ nghĩ, nếu
cô không theo học khoa nhân văn kia. Chính lãnh vực nghiên cứu
đã bắt chiếc cầu ngang qua cái vịnh văn hóa và tuổi tác chia
cách cô và bà ngoại cô. Cứ xem cha mẹ cô thì rõ; họ xa cách
với thế giới của bà ngoại cô quá chừng! Natalie đã tìm thấy
ở bà ngoại mình một gia sư, và một người bạn.
Cô đã dàn xếp để tìm thăm những người liên hệ gia tộc
mà từ bé đến giờ cô chưa hề gặp – những người mà chỉ có bà
ngoại của cô mới biết được. Nhưng người ở lại quê hương thì
nhờ cái nền tảng gia tộc từ bao đời truyền lại đã không mấy
khó khăn xác định được khúc ruột ở xa vạn dặm, cho dù khúc
ruột đó có dính một phần tư máu huyết ngoại lai. Họ ân cần
với cô, xem cô như là sứ giả của bà Dung, người con của gia
tộc đã đi xa, đi xa mãi không về. Natalie đã được hướng dẫn đi
thăm những nơi mà bà ngoại cô đã kể, đã hằng ao ước được
thấy lại. Cô vào xem khu chợ Hội An, và trước mỗi gian hàng
cô cố mường tượng hình ảnh người thiếu nữ tên Dung ngày xưa
ngồi bán hàng. Natalie bước ra ngoài, đến đầu chợ, nhưng không
tìm thấy giếng máy công cọng, nơi ngày xưa cô Dung từng bị
đám con trai trêu chọc mỗi khi nàng đi ngang qua. Người bà con
hướng dẫn viên cho hay giếng đã bị phá bỏ từ lâu rồi.
Và cuối cùng Phước Trạch đây rồi. Bây giờ Natalie mới
đích thực đặt chân đến một làng quê Việt Nam. Bà ngoại đã
đến từ một thế giới như thế này để khai sinh ra mẹ cô, và cô
sao? Thế giới ngày xưa của bà ngoại có giống như thế này
không? Tất cả là một cái nghèo, cái nghèo rộng lớn bao trùm
lên ngàn dừa xanh nhiệt đới, lên bờ bụi hoang phế, lên đất
cát khô cằn, nhọc nhằn, lên người già và trẻ con gầy guộc,
và thậm chí lên trâu bò khẳng khiu… Thoạt đầu Natalie ngạc
nhiên khi nghe những đứa trẻ mời cô mua hàng bằng tiếng Pháp,
một thứ tiếng Pháp không đúng tiêu chuẩn nhưng dễ hiểu! Người
hướng dẫn giải thích rằng, mới mấy năm trở lại đây thôi, du
khách, nhất là người Pháp, đã lui tới đây nhiều, và trẻ con
đã kiếm được tiền bằng cách bán hàng cho du khách; chúng nhi
nhô tiếng Tây, tiếng U cũng được việc lắm!
*****
Trở lại Paris, Natalie rất hài lòng về khoảng thời gian
làm việc tại Việt Nam, về chuyến thăm Hội An. Hợp đồng một
năm với UNESCO trôi qua nhanh. Nhưng dù có được gia hạn cô cũng
không muốn tiếp tục, nghĩ mình chưa đủ già để đi theo lối mòn
mãi. Nhìn thấy nổ lực bảo tồn những di tích tại Hội An, và
vài nơi khác, cô không khỏi ngỡ ngàng nhớ lại những gì mình
đã đọc về một giai đoạn lịch sử của đất nước này, một thời
kỳ cũng chính chính quyền này hô hào phá bỏ những giá trị cổ
xưa, triệt hạ cả một lớp người, và bao nhiêu công trình. Lịch
sử phải chăng là những tái diễn, những phi lý, những gì gì
nữa, trong một chu kỳ kín không lối thoát? Natalie không muốn
nghĩ ngợi xa xôi. Tuổi trẻ hôm nay có lẽ vị kỷ hơn ngày xưa,
Natalie nghĩ thế. Tạm biệt thành phố cổ, cô mang theo những
thoáng rung động nhẹ nhàng do cảnh trí, do những người cô gặp
gở. Và Natalie cũng mang theo câu chuyện tình đầu của bà ngoại
cô do một người lớn tuổi nhất trong gia tộc kể, bà Thu, em gái
của bà ngoại cô. Natalie đã nhớ lại câu chuyện trong đám giỗ
năm nào tại nhà một người quen ở Narbonne; lần đó cô được
biết nỗi ân hận của người đàn ông trong câu chuyện tình ngang
trái kia là đã bỏ lỡ dịp thuyết phục người yêu trốn theo mình.
Rồi cô liên tưởng đến một chi tiếc do bà Thu kể, theo đó bà
ngoại cô mãi mãi biết ơn, mãi mãi kính trọng cố nhân về sự
cao cả của người trong đêm tăm tối năm xưa bên bờ Cửa Ðại,
và thấy lòng chùng xuống theo một thoáng nghĩ ngợi. Một bên
nuối tiếc, và một bên an phận, bằng lòng. Có bao giờ họ gặp
lại nhau ở một thế giới nào đó để cùng cảm thông? Natalie
nghĩ bây giờ mình đã hiểu câu chuyện tình buồn trên nửa thế
kỷ qua!

Hội An những năm đầu của thập niên 1920.
Thành phố cổ xưa nhất Việt Nam, sót lại từ thời
Trịnh-Nguyễn phân tranh, thủ phủ của tỉnh Quảng Nam, đang rụt rè
đón nhận chương trình mở mang của người Pháp. Những đường phố
làm ra từ thế kỷ thứ 17 chỉ để di chuyển bộ hoặc cho xe ngựa,
xe bò, với lòng đường chật đến nổi không có chỗ cho xe hơi,
dù nhỏ nhất, lưu thông hai chiều. Nhà san sát nhau, kiến trúc
lối xưa, tối và dài thăm thẳm; nhiều nhà thông ra hai mặt
đường phố. Không thể nới rộng đường phố, vì nếu làm thế sẽ
phải phá bỏ toàn thành phố!
Ðường xe lửa xuyên Việt chưa hoàn thành, nên phương tiện
giao thông đường biển, đường sông bằng thuyền vẫn đắc dụng,
thậm chí là huyết mạch cho toàn xứ. Hội An nằm ven sông, và
lại gần biển cho nên đã là điểm thương mại sầm uất trong tỉnh.
Ngôn vừa hai mươi mốt tuổi. Anh làm việc trên một ghe
buôn lớn chạy đường biển từ Thanh Hóa vào Nam. Người Quảng Nam
gọi loại thuyền buồm vận tãi viễn dương này là ghe bầu.
Natalie nhớ có lần hai bà cháu cô đã thảo luận về tên gọi
này. Bà ngoại cô cho rằng vì ghe hình hơi bầu dục nên được gọi
như vậy, còn cô thì căn cứ vào tài liệu tham khảo đã chấp
nhận giả thuyết tên ghe bầu bắt nguồn từ tiếng Mã Lai,
gay-pràu, có nghĩa là thuyền buồm, một giả thuyết có vẻ phù
hợp với sự kiện trong quá khứ Hội An từng là cái nồi xào
bần của các yếu tố văn hóa Chàm-Việt-Mã Lai-Nam Ðảo-Trung Hoa
… Ðám thủy thủ ghe bầu góp phần không nhỏ cho sự phồn thịnh
của thành phố cổ nhỏ bé Hội An, vì hầu như lúc nào Cửa Ðại,
bãi biển cách Hội An khoảng bảy cây số, cũng có năm bảy
chiếc ghe buồm khổng lồ này thả neo nằm chờ… Thường thường
mỗi chiếc ghe cặp bến nằm đợi cả tháng hoặc lâu hơn để bán
cho hết số hàng hóa mang theo, để chờ nhập thổ sản, và cũng
để chờ gió mùa cho lộ trình về. Ðám thủy thủ sử dụng thời
giờ nhàn rỗi ở những quán ăn, quán nhậu, những cửa hàng tạp
hóa, những nhà chứa sòng bài, v.v. trong thị xã.
Lần đó chiếc ghe của Ngôn nằm ở Cửa Ðại gần ba tháng.
Ngoại trừ những lúc lên hoặc xuống hàng ghe phải men ngược
sông Hoài, nhánh đổ ra biển của sông Thu Bồn, để cặp bến Sơn
Phô gần thành phố hơn, phần lớn thời gian chiếc ghe của anh ta
thả neo ở Cửa Ðại. Những ngày đầu Ngôn lang thang khắp nơi
trong thành phố, xem phong cảnh chỗ này, chỗ kia, vì là lần đầu
tiên anh có dịp đặt chân đến một thành phố cổ kính như vậy.
Không giống như các bạn đồng nghiệp trên các ghe bầu, Ngôn
không thích rượu chè, bài bạc, nên Ngôn không lai vãng các
tiệm nhậu, các sòng bài trong thành phố. Sau mấy ngày rong
chơi, hết chỗ mới để đi xem, Ngôn lại về ghe nằm chèo ngoeo,
hoặc vào làng Phước Trạch, một làng chài lưới ở sát Cửa
Ðại, làm quen với các người lớn tuổi để chuyện trò hoặc chơi
cờ tướng cho qua thì giờ.
Một hôm, cần mua một số vật dụng, và cũng thèm món
cao lầu nổi danh của Hội An, Ngôn lại bò lên thành phố. Ngôn
đến một gian hàng xén trong chợ. Thoạt bắt gặp cái ngước nhìn
của cô bán hàng, Ngôn mất bình tĩnh hẳn. Ngôn nhủ thầm, làm
gì mà ruột rè thế, thật buồn cười. Thế nhưng anh mất bình tĩnh.
Anh chưa bao giờ cảm thấy như thế trước một người con gái, dù
đẹp, dù xấu. Và không phải anh chưa từng gặp con gái đẹp.
Thật là kỳ lạ. Cái nhan sắc này có một cài gì khó tả. Gương
mặt cô gái toát ra một vẻ hiếm thấy. Nó vừa hiền hòa, vừa
nghiêm nghị, vừa ân cần lại vừa cao sang, xa cách; nó có cái
gì dễ cảm, dễ mến, mà lại làm người ta nễ sợ, không dám
buông lời sàm sỡ để chọc ghẹo.
Từ hôm khám phá ra giai nhân trong khu chợ Hội An, Ngôn
lên phố hằng ngày, đi lang thang đây đó để cuối cùng ghé
gian hàng xén nhìn mặt nàng cho đỡ nhớ. Ngôn vẫn chưa nói được
một lời bày tỏ con tim thổn thức của mình, ngoài mấy câu
hỏi giá cả cộc lốc của anh và mấy câu trả lời êm ái, đãi
đưa rất con buôn của người đẹp. Dĩ nhiên. Còn quá sớm!
Thế rồi, ngày một ngày hai, họ quen mặt nhau quá, và
cái thân tình giữa hai bên chợt đến lúc nào không ai hay, chỉ
biết mỗi lần chạm mặt nhau, người này không giấu được nỗi vui
mừng đối với người kia. Về phần Dung, cô hàng xén, sự quen
mặt khiến nhiều lúc cô quên cả giữ ý tứ với chàng trai.
Một hôm, Ngôn vừa bước đến chỗ bán hàng, Dung bỗng vụt miệng
hỏi, anh ăn cơm chưa?. Thốt xong câu hỏi, Dung bỗng ngượng
điếng người, hai tai nóng bừng, mặt đỏ lên. Ô hay, mình khéo lo
thì thôi. Mặc xác chàng ta, sao mình lại ân cần thăm hỏi không
đúng cách thế kia! Ngôn đọc ngay trong câu hỏi bất ngờ, trong
sự lúng túng sau đó của người con gái một cái gì làm ngây
ngất lòng chàng trai mới lớn. Dung không ghét mình như lối
làm vẻ xa cách của nàng. Ðêm đó, về ghe của mình, Ngôn trằn
trọc, thao thức, đến khi gà gáy đầu vẫn chưa chợp mắt được.
Anh hình dung lại nét mặt khả ái, dịu hiền của cô hàng xén,
lắng nghe mãi dư âm của điệp khúc anh ăn cơm chưa?. Ôi, tất
cả thật là huyền hoặc, liêu trai, thật là mộng mị, nhưng sao
thật là hiện hữu. Trăm năm chỉ chờ cái khoảnh khắc kỳ ảo
này thôi – mặc khải của tình yêu đã đến. Không còn một con
tim đơn độc gõ nhịp nữa, mà là sự hòa điệu của đôi lòng.
Ngôn lên phố thường xuyên hơn. Anh chuyện trò với Dung
nhiều hơn. Họ hiểu nhau hơn. Mỗi ngày qua, tình tự giữa hai
người cứ hơn mãi. Ngôn kể về gia đình của anh ở quê nhà
Thanh Hóa, một gia đình chẳng cao sang, nếu không muốn nói
nghèo, nhưng rất đầm ấm, trên thuận dưới hòa. Dòng họ Dung bao
đời cắm rễ trên mãnh đất Phước Trạch, và biển cả như mẹ
hiền nuôi dưỡng bao thế hệ. Bố mẹ Dung là lớp người đầu tiên
của dòng họ đã thoát ly giòng đời truyền tử lưu tôn tự nghìn
xưa để khởi nghiệp tại Hội An. Dung tâm sự với Ngôn về nổi
buồn con gái, về tháng ngày lặng lẽ của mình bên bố mẹ
nghiêm khắc, giữa anh chị em không hiểu mình, giữa đô thị cổ
hẹp hòi, cố chấp, ngột ngạt. Ngôn kể về cuộc đời sớm làm
lụng của anh, về ước vọng tương lai… Bỗng dưng Dung nhìn đôi
bàn tay nở nang của anh – đôi tay làm lụng – với một niềm cảm
mến kỳ lạ. Thực ra, Dung chưa thấy khuôn mặt con trai nào khả
ái như Ngôn; mặt thon nhưng không dài, với chiếc cằm hơi bạnh
chứ không nhọn; màu da sạm nắng của người đi biển ở anh vẫn
pha chút hồng hào tự nhiên. Ðặc biệt đôi mắt to, nâu thẩm,
dưới hàng lông mày rậm đáng lẽ khiến tia nhìn có vẻ dữ dội
thì lại khá hiền hòa dưới riềm mi hơi dài. Tất cả làm anh
tương phản với tập thể dân đi biển mà cô đã quá quen nhìn. Cô
ngầm so sánh anh với những công tử đang chạy theo cô. Ðám
người kia ẽo lã, yếu đuối, thừa tiền, lắm của, đi chinh phục
giai nhân bằng sự bảo chứng của mớ tài sản vật chất sau lưng.
Dung thấy cái tình của giới giàu có đôi khi không đo bằng quả
tim rướm máu của Trương Chi, còn tấm chân tình của người con
trai phương xa đang đứng trước cô là một khối tình Trương Chi –
cô cảm nhận thế – nếu anh ấy thất tình! Ờ mà thất tình vì ai?
Dung liếc nhanh Ngôn, sợ anh ta lại đọc được ý nghĩ của cô, hay
lại thấy cô đỏ mặt.
Cái hình ảnh thỉnh thoảng vẫn hiện về trong trí làm cộm
một cảm giác khó chịu trong cô là viên công sứ Pháp tại Hội
An. Dung chẳng có một chút thiện cảm với hắn. Hắn ta theo đuỗi
cô một cách trắng trợn, chứ không dè dặt, từ tốn như các
chàng công tử địa phương. Và, oái oăm thay, bố mẹ cô lại thỉnh
thoảng buông lời đùa cợt úp mở với cô về hắn.
Bẵng đi một ngày Ngôn không đến cửa hàng. Dung không
vui vẻ bán hàng như mọi khi, lòng cứ trông ngóng, chốc chốc
lại nhìn về phía giếng máy, hướng anh ta vẫn đến mỗi lần Ềlên
phốỂ. Ngày hôm sau anh chàng đến sớm hơn thường lệ nhiều; Dung
vừa bày hàng xong đã thấy Ngôn xuất hiện. Mừng nhưng ngạc
nhiên, ánh mắt Dung làm anh bối rối, lúng túng. Trực giác con
gái làm Dung chờ đợi một điều gì … Quả nhiên, rất nhanh Ngôn
liếc trước, liếc sau để chắc không có người mua kẻ bán đến
gần, vội lùa tay vào túi áo bà ba lôi tờ thư gấp làm tư đặt
lên mặt kính quày hàng rồi bỏ đi. Trong một thoáng Dung hoảng
hốt, muốn gọi Ngôn lại để trả bức thư nhưng miệng như cấm
khẩu, và người con trai thì vụt một cái đã cách một khoảng xa!
Cô vơ vội tờ giấy nhét vào túi áo mình.
Chiều hôm ấy, dọn dẹp hàng hóa xong, để mặc cho người
nhà gánh về sau, Dung thoăn thắt đi về trước, một điều trái
với thông lệ mỗi ngày của cô. Bước vào căn buồng ngủ tối
mờ mờ, gài then cửa, cô bật đèn và run run mở lá thư của
Ngôn. Lần đầu tiên trong đời con gái Dung được một chàng trai
gửi thư cho mình. Chẳng phải ít người theo đuỗi cô, nhưng những
người kia chỉ thậm thụt lui tới rồi nhờ mối mai bắn tiếng với
gia đình cô. Dung được biết ít ra đã ba đám đến dạm hỏi cô, và
bố mẹ cô có vẻ còn trông chờ một nơi môn đăng hộ đối hơn.
Những chàng trai kia chỉ có ông mai bà mối là sứ giả tình yêu!
Ngôn khác hẳn.
Tuy chưa đọc, Dung đã dự đoán bức thư là một lời tỏ
tình. Và như vậy chẳng có gì đường đột, mà mọi sự trên giấy
trắng mực đen chỉ là sự xác nhận của ánh mắt, nụ cười, của
những lời ỡm ờ xa xôi, của cử chỉ vụng dại si tình – sự xác
nhận cái thông điệp bất thành văn mà Dung đã nhận từ lâu
nay. Ấy thế mà Dung vẫn sợ phải đọc nó. Lúc Ngôn đặt phong
thư lên mặt quày hàng, tim cô như ngừng đập, miệng cô muốn
nói, Ềthôi đừng viết ra anh ơi, em sợ phải đọc nó, em sợ một
sự công khai hóa, sợ tai mắt của cuộc đời thóc mách chung
quanh ta, và em muốn chúng ta cùng giữ trong lòngỂ.
Sau khi đọc ba lần tờ thư của Ngôn, Dung vội xếp lại
nhét vào túi áo, một thái độ cẩn thận mà chính Dung cũng
thấy tức cười. Cô có cảm tưởng mọi người đã nhận thấy cử
chỉ khác lạ của cô chiều nay, đang rình rập ngoài cửa buồng,
và có thể ập vào bất cứ lúc nào để bắt quả tang cô đang
đọc thư trai. ỀMọi ngườiỂ là cha mẹ cô, là Duân, anh cả của
cô. Cái anh chàng Duân mới thật chán, mới ngoài hai mươi mà
cứ như ông cụ non. Thảo nào chẳng có ma nào để ý anh ta. Cũng
chẳng sao, đã có những ông mai bà mối làm sứ giả tình yêu!
Dung muốn trãi chiếu ra và ngã lưng trên chiếc giường gỗ quen
thuộc, nhắm mắt lại tận hưởng cái tâm trạng lâng lâng, mới
mẻ do lời thư của Ngôn mang lại, nhưng ngại mẹ cô lại réo
gọi, lại dài dòng mắng dạy đủ điều, nào Ềcon gái phải siêng
năng, phải lo bếp núc, chứ đâu lại về nhà nằm ngữa nằm
nghiêng, chờ người khác dọn sẵn mâm cơm cho mình …Ể và vân
vân. Dung đi rữa mặt rồi bước vào bếp làm việc với Thu, em
gái, mà trong lòng đang vấn vương trăm mối! Vui sướng lẫn lo sợ
cứ thay nhau chia trí cô, khiến có lần Thu nhìn chị hỏi, Ềchị làm
sao vậy, có điều gì không?Ể. Dung chỉ trả lời phủ nhận, rồi
lãng sang chuyện khác.
Bỗng dưng, từ hôm nay, Dung thấy thế giới chung quanh
không còn nhàm chán, tẻ nhạt nữa. Nếu từ cả tháng nay Dung
đã lờ mờ thấy mình yêu đời lên vì mình dường như là trung tâm
của một ai đó, thì cảm giác kia hãy còn mong manh, bất định, mơ
hồ, chợt có, chợt không. Bây giờ mọi sự thật rõ ràng. Và
tuy cô muốn cả hai cùng giữ trong lòng, đừng thể hiện nó bằng
lời, bằng giấy trắng mực đen, Dung phải nhận mình thầm cám ơn
Ngôn đã tỏ tình trong thư. Có thế chứ. Nếu anh không chịu nói
ra thì Dung sẽ giận anh vô cùng. Dung biết bằng trực giác là
một chuyện, anh phải Ềthú tộiỂ là chuyện khác. Vậy mà Dung đã
hoảng sợ, đã Ềgiẫy nẫyỂ muốn trả thư anh. Ôi, con gái chứa
đầy mâu thuẩn. Nghĩ cho cùng, con người là một trung tâm mâu
thuẩn, anh Ngôn ơi! Dung thấy thinh thích trong lòng, nhớ lại
những cái nhìn, lời nói của Ngôn. Với tờ thư này, những cử
chỉ trong quá khứ thật dễ lý giải. Ngôn yêu mình đứt đuôi
rồi. Cái tôi con gái đầy tự ái được thõa mãn. Ðành rằng một
thiếu nữ dù không đẹp với tất cả mọi người thì vẫn đẹp, vẫn
duyên dáng với một người, thế nhưng Dung biết mình đẹp dưới
mắt mọi người, chứ không chỉ hợp nhãn Ngôn.
Nhưng rồi Dung bỗng hơi thất vọng: từ đầu đến cuối Ngôn
chẳng hề khen mình đẹp, mà chỉ nói đến cái nết na, cái đằm
thắm, thùy mị, dịu dàng, giỏi giang v.v. của mình. Anh ta chỉ yêu
mình toàn vì những điều ở đâu đâu, không hình tượng, không
nhãn tiền. Làm sao anh ta trông thấy được những điều đó nhỉ?
Chắc anh ta có mắt thần. Mắt thần sao không thấy những lúc
Dung nổi tam bành khiến các bà bán cá cũng chạy mặt! Thôi
biết rồi, anh chàng cảm vì sắc của mình, nhưng cứ phịa ra những
Ềcông dung ngôn hạnhỂ cho hợp lễ, hợp đạo. Tuy nhiên, thầm kín
trong lòng, cô Dung hàng xén bỗng mơ hồ nghe mình tự hỏi, đằng
sau tấm nhan sắc, người con gái không còn lại gì để mặc cả
với đời sao? Chắc chắn là Ngôn để ý một người con gái vì
dáng vẻ của cô ta, nhưng không dừng ở điều kiện đầu tiên đó,
mà còn đi tìm kiếm xa hơn nữa. Dung nghĩ mối tình của người con
trai này là một chân tình. Chàng không như con bướm lượn vành
mà chơi. Lại nữa, chàng trân quí mình đến thế sao? Chàng chẳng
cần tiền của gì trên đời này cả, chỉ cần có mình thôi! Anh
yêu ơi, anh nói thế là chí phải. Chúng ta, em và anh, sẽ làm
mọi thứ từ đầu – anh với đôi tay phá núi, với ý chí lấp bể,
em với tình yêu, với tận tụy, với hy sinh …
Bức thư chỉ bày tỏ tình yêu, bức thư không đòi hỏi Dung
một điều gì – dĩ nhiên rồi, dám đâu đòi hỏi! Nhưng cô thừa
biết lời khẩn cầu mặc nhiên của nó. Chấp nhận hay khướt từ
thì cô đã biết, nhưng ngày mai gặp Ngôn mình phải làm mặt
lạnh, con gái đoan trang phải thế, Dung tự nhủ. Con trai phải
biết phân tích, nếu muốn giải đoán đúng tín hiệu con gái!
Trao được bức thư cho Dung, Ngôn có cảm tưởng đã trút
được những trĩu nặng trong lòng bấy lâu nay. Ðối diện nhau trong
gang tất, nhưng sao thấy cách trở quan san. Sóng lòng cuồn cuộn,
nhưng sao không diễn đạt thành lời được; mở miệng ra chỉ toàn
những câu nói nhạt nhẽo, vô duyên kể chuyện trên trời dưới
đất, chứ không kể lể nỗi thầm yêu trộm nhớ của mình. Dung có
hiểu gì không, hỡi khuôn mặt tươi cười mà vô tình đến độc ác
kia. Có thể nàng hiểu, có thể nàng chỉ dự đoán, nhưng dù sao
nàng cũng đã cho thấy không đến nỗi ghét mình. Phải cho Dung
biết mình yêu nàng, thật sự yêu nàng. Phải cho Dung biết nàng
là tất cả, từ nay mọi sự trên đời đều không còn nghĩa lý
nếu thiếu nàng.
Chàng trai Ngôn vốn nhìn tháng ngày của tuổi trẻ trãi
rộng trước mặt êm ả như biển xanh mùa hạ. Không vươn vấn,
không sầu muộn, anh hăm hở đi tới, và lòng hằng nghĩ đến một
bến đậu vĩnh cửu của đời mình, đề huề vợ con, gia đình ấm
cúng. Ghe anh đã ghé đổ bao bến bờ và anh biết sẽ có một
ngày không xa quay lại bến nhà, vâng lệnh song thân, mình sẽ
kết tóc xe duyên với một ai đó, có thể là với Cái Hoài,
người con gái trong xóm mà thỉnh thoảng anh có nghe bố mẹ đề
cập đến như một trong những nơi họ nhắm tới. Ít khi anh tự hỏi
lòng về việc hôn nhân, vì chẳng có gì để thắc mắc, ngoại trừ
cái rạo rực thường lệ đi kèm với trí tưởng về cuộc sống lứa
đôi. Anh có yêu thương Hoài chưa, hoặc có biết người nào khác
mà bố mẹ chọn cho anh sau này chưa? Tình yêu là cái gì không
đặt ra trước hôn nhân, nhưng sẽ theo sau hôn nhân – một định
luật tự nghìn xưa truyền lại – và bố mẹ đã thực hành thành
công, nay đến phiên anh.
Nhưng Dung đã thổi một luồng gió mới vào lối mòn trong
tâm khảm của Ngôn. Sau Dung, anh không thể chấp nhận một Cái
Hoài, hay một ai đó. Tất cả đều xa lạ với anh, tất cả đều
không sánh được với Dung, thì làm sao anh có thể ăn đời ở
kiếp với họ. Người mà đến thế thì thôi…, Ngôn thấy bao
công danh phú quí mà chi nếu không có được người trong mộng
này! Phải viết cho Dung biết lòng mình, dù sẽ bị cự tuyệt.
Phải viết. Một lần rồi thôi …
Rồi điều phải đến đã đến. Lần hẹn hò đầu tiên của
Ngôn và Dung đã diễn ra một tuần sau ngày Ngôn gửi cánh nhạn
tỏ tình. Họ gặp nhau không đầy ba mươi phút, trong phập phồng lo
sợ, e lệ bỡ ngỡ về phía Dung. Ðôi bên chẳng biết nói gì với
nhau, người con gái cứ cúi đầu thẹn thùng, người con trai chỉ
biết lặng nhìn, không biết mở đầu bằng lời gì.
Cái bé nhỏ của phố xá Hội An chính là điều hành tội
hai kẻ yêu nhau. Trời vừa sập tối, mọi nhà vừa lên đèn thì
đường phố đã thưa vắng. Con gái nhà lành không ra khỏi cửa
nhà. Cả thành phố giống như một gia đình lớn, trong đó mọi
người biết tên nhau, biết mặt nhau. Mang tiếng là thành thị,
với đường phố ngang dọc, nhưng tất cả chỉ gói ghém trong một
chu vi bé tí. Chiều dài thành phố được đo bằng câu nói có lẽ
đã có từ ngày khai thiên lập địa của nó, thượng Chùa Cầu,
hạ Âm Bổn, nối hai cái mốc đánh dấu thành phố mà một người
đi bộ chậm rãi chỉ mất có mười lăm phút từ đầu này đến đầu
kia – từ cây cầu Nhật Bản ở lối vào thành phố đến Chùa Âm
Bổn cuối phố xá. Chiều ngang cũng chẳng hơn gì đoạn thượng
Chùa Cầu, hạ Âm Bổn, từ bờ sông xuyên qua bốn con phố nhỏ
đến khu tòa sứ. Cho nên Dung dám đi gặp người yêu vào buổi
tối trong lần hẹn đầu là một liều lĩnh. Làm sao che được tai
mắt của cái thành phố già nua, thủ cựu, thóc mách! Có lẽ
người con gái nào khi yêu cũng liều lĩnh. Dưới gốc dừa bên
ngoài chùa Năm Tôn vắng lặng, ngôi chùa nhỏ của làng Sơn Phô
kế cận thành phố, dưới mãnh trăng lưỡi liềm không đủ soi
sáng khuông mặt hai người, Ngôn và Dung không dám đứng sát
nhau, nhưng cả hai cùng có cảm tưởng nghe được nhịp tim của nhau.
Cuối cùng Ngôn đã thu hết can đảm hỏi thẳng Dung có yêu mình
không. Cô bé đã rụt rè trả lời rằng không biết, chuyện lứa
đôi do cha mẹ định đoạt. Ngôn đã cố gạn hỏi đôi lần cũng
chẳng nghe được chính miệng giai nhân thú nhận yêu mình. Dung đã
nghĩ trong lòng, sao anh ngốc thế, không thương sao dám đến nơi
hẹn với anh đêm nay. Cô đã vội vã ra về, men theo con đường
đất dọc bờ sông có nhiều lùm bụi che khuất để không ai trông
thấy.
Dù có dốt về khoa tâm lý con gái cách mấy đi nữa,
Ngôn cũng thừa biết Dung đã chịu mình đứt đuôi rồi. Tuy ngoài
miệng không biết nhưng trong lòng cô nàng đã biết yêu mình
rồi. Không lỗi hẹn đầu là một bằng chứng không ai chối cãi
được. Thế nhưng Ngôn vẫn phải hỏi. Anh muốn được nghe câu trả
lời, không hẳn để xua đuỗi một sợi tóc bất an còn sót lại
trong lòng mình, mà chính là để được nghe cái âm vang đáng yêu
thốt ra từ cái miệng hoa kia, cái âm vang nhiệm mầu như điệp
khúc anh ăn cơm chưa mà anh khắc ghi trong lòng tưởng đến nghìn
đời không phai!
Những lần hẹn hò kế tiếp đã đến dễ dàng hơn, bạo dạn
hơn, và say đắm hơn. Dung đã dám để yên bàn tay mình trong tay
Ngôn rất lâu. Rồi má kề má, rồi những vòng tay ôm siết, rồi
họ có nhiều chuyện nói với nhau hơn lần hẹn đầu đầy sợ sệt.
Nhưng trong không gian ngây ngất của tình yêu, người con gái vẫn
nơm nớp lo sợ những tai mắt rình rập của thành phố bé nhỏ
này. Họ cùng thõa thuận lịch trình hò hẹn là cách nhật, để
các hoạt động bị cách khoảng, bị thưa đi, một yếu tố đánh lạc
hướng những con mắt soi mói của đám cư dân ăn không ngồi rồi
hay ngồi lê đôi mách có ngày sẽ thấu tai cha mẹ nàng.
Rồi một lần nữa họ gặp nhau. Lần này điểm hẹn là sau
Lò Heo. Từ đó họ bách bộ ra bờ sông. Bỗng dưng lần này mỗi
người đều mang trong lòng những băn khoăn khắc khoãi về ngày
mai của cuộc tình. Tuy không ai nói ra, mỗi người đều biết
những gì trong lòng người kia.
– Ðêm qua chẳng hiểu sao em cứ nằm thao thức đến quá
khuya chưa ngủ được …
– Anh cũng vậy, nằm nghe sóng vỗ ầm ầm cả đêm, lại
thêm cái thằng bạn mắc dịch nằm trên trần ghe chốc chốc lại
ca quan họ Bắc Ninh, mà toàn những câu thất tình nghe não nuột
làm sao!
Tình yêu đích thực muôn đời vẫn là khát vọng chiếm
đoạt; người này phải là sở hữu của người kia. Dù rằng hôn
nhân không nhất thiết là chặn cuối của tình yêu, nhưng hôn
nhân là phương cách duy nhất được xã hội công nhận để hai
người khác phái thuộc về nhau. Dung và Ngôn bắt đầu có những
trăn trở của giấc mộng đầu. Dung không hiểu nỗi những người
lớn – những người từ đời xửa đời xưa – làm sao có thể giản
lược thân phận con gái vào một sự mặc cả, một sự đổi chác
nằm dưới nhãn hiệu môn đăng hộ đối. Tình cảm, cái phần hồn
của con người, thì các bậc ấy có biết không? Ở thời của họ,
phỏng họ không có cái phần hồn đó chắc? Ở Ngôn cái nổi
loạn của người con trai trước việc hôn phối xưa nghìn đời mới
mãnh liệt hơn. Lại một lần nữa, hình ảnh Cái Hoài hiện về
trong trí anh, làm cợm trong lòng một cảm giác không dễ chịu.
Nếu trong thời gian anh đi xa đằng đẵng này, bố mẹ ở nhà đã
tự tiện qua nhà cha mẹ Hoài dạm ngỏ để giữ chỗ cho anh thì
sao? Trước kia, thỉnh thoảng anh có nghĩ đến viễn ảnh này và
thấy lòng dửng dưng, không bận tâm chút nào. Nhưng bây giờ thì
không thể chấp nhận được. Ðối diện Dung anh thầm nhủ lòng,
trăm nghìn lần không được!.
Nắm bàn tay phải của Dung trong đôi bàn tay mình và nhìn
sát mặt nàng, Ngôn chậm rãi nói:
– Anh muốn hỏi điều này. Nếu anh về quê thưa chuyện với
ba mẹ anh, để hai ông bà vào đây cho biết em, và chính thức
nhờ mai mối đến thưa chuyện với gia đình em, thì em nghĩ sao?
Dung im lặng, chờ cho thoáng xúc động qua đi, mới ấp
úng:
– Em không biết …
Ngôn nhìn mái tóc phủ xuống khuông mặt cúi thấp của
Dung, và bỗng thấy dâng lên trong lòng một mến thương đến tội
nghiệp. Anh hạ thấp giọng, nói như một lời cam kết, một vỗ về
tin yêu:
– Anh sẽ về trình bày với ba mẹ anh về em …
Một lát, Dung nói:
– Rồi ba em hỏi em quen biết, hẹn hò với anh hồi nào, em
biết nói sao đây!
– Anh tin rằng mình đường đường chính chính thú tội hết
thì người lớn sẽ tha thứ.
Dung lại lặng im, lòng nửa tin tưởng, nửa lo lắng về
giải pháp của người yêu. Thực ra, cái bất an trong lòng Dung
bắt nguồn từ cái nhìn tiêu cực cố hữu của cha mẹ cô về tập
thể thủy thủ ghe bầu. Cô biết hơn ai hết cha cô chẳng bao giờ
coi trọng những con người tứ phương đó mà ông thường dùng
những lời đầy miệt thị để gọi – cái tụi ghe bầu, cái đồ ghe
bầuỂ, v.v.
Sau lần hò hẹn đó, người con trai nuôi trong lòng một
quyết tâm đi tới, và thoáng thấy nẽo đường tình của mình khá
phẳng phiu, khá tươi sáng, và người con gái thì lòng ngổn ngang
trăm mối, lo sợ lẫn hy vọng. Nhưng có một điều, cả hai cùng
không ngờ tai họa đã giáng xuống – không biết có phải từ cái
đêm cuối đó, hay từ trước rồi mà họ không hay biết! Trưa hôm
sau, Thu từ nhà tức tốc chạy ra gian hàng xén báo tin chẳng
lành cho chị: người cha ra lệnh Dung về nhà gặp ông, để cửa
hàng cho Thu trông coi tạm. Dung có gạn hỏi Thu, nhưng vô ích, vì
cô em cũng chẳng hiểu trời trăng gì về mệnh lệnh này.
Bước vào nhà, Dung gặp ngay tại cửa vẻ mặt lo lắng của
mẹ. Cô ngập ngừng mấy giây, rồi đi thẳng vào trong nhà, rón
rén đến bên cha cô đang ngồi vừa trầm ngâm vừa hầm hầm. Cái
ngước nhìn lạnh như tiền, rồi tiếp theo một tràng câu hỏi
cung của ông làm Dung có cảm tưởng lưng mình vừa bị ai xối một
gáo nước lạnh. Ngay phút đầu dấn thân vào cuộc phiêu lưu tình
ái này Dung đã có cái bất an thường trực là khó tránh khỏi
tai mắt của cái thành phố nhỏ như bụm tay này, và nay thì điều
nàng nơm nớp chờ đợi đã đến! Qua một khoảnh khắc sợ hãi, Dung
bỗng thấy mình bình tĩnh lạ thường. Cô chối phăng tất cả những
câu hỏi trói buộc của người cha, một mực nói mình chỉ đến nhà
bạn bè chơi, hoặc đi hóng mát ở bờ sông, chứ tuyệt nhiên
không hề quen biết, không hề hẹn hò với chàng trai nào. Ðến
nông nỗi nầy, cô thấy có nhận cũng không nhẹ tội, cũng
không xoay chuyển tình thế. Dùng hăm dọa để gạn hỏi không đi
tới đâu, người cha bắt đầu dùng vũ lực. Ông đứng lên, đến
bên giàn bếp lôi con roi mây màu vàng nhạt, cái màu báo hiệu
những đớn đau! Dung thấy hồn vía lên mây, nhưng cố tâm niệm
trong lòng để đừng nao núng, mày chớ dại khai, vì có khai cũng
không thoát khỏi tội, không thoát khỏi hình phạt; không mở
miệng thì may ra còn có đường … Dung đã rên la, đã van xin, đã
quằn quại dưới những đường roi phũ phàng vút đơm đớp xuống
người cô, nhưng tuyệt nhiên cô không hề nói một câu gì nhận
tội. Mẹ cô hết chịu nỗi những tiếng kêu khóc của con, đã lăn
xã vào dựt con roi từ tay chồng và khuyên ông bình tĩnh lại,
nếu không muốn giết con.
Mặc cho Dung khăng khăng chối quanh, ông Tú Diệp, cha
cô, vẫn tin lời mách bảo người ngoài. Ông thấy con gái ông
đã là trái bom sắp nổ trong nhà! Trong đầu ông đang lóe lên
một giải pháp chống bom nổ. Ông phải cho vời người mai mối
của viên công sứ Pháp đến càng sớm càng tốt, trước khi mọi
sự thành quá trễ.
Cái đau đớn của đòn roi là thế, như xé da xé thịt, nhưng
cái đau do những lời của cha cô đi kèm theo mới làm tan nát
lòng Dung. Mày làm điếm nhục gia phong, mày chạy theo một
thằng đi ghe bầu …, thà tao giết mày cho rãnh, còn hơn để mày
làm uổng công lao cha mẹ nuôi dạy … Bấy nhiêu lời đã quá
lắm rồi, còn gì tàn nhẫn hơn. Ngôn mà nghe những lời này
không biết anh sẽ đau khổ đến mức nào, sẽ tuyệt vọng như thế
nào? Sao con người cứ bị nô lệ thành kiến mãi, cứ cư xử bất
công với đồng loại mãi thế này! Thật mĩa mai, có lẽ giờ này
Ngôn đang vui sướng trong lòng với niềm tin rằng mình đường
đường chính chính thú tội hết thì người lớn sẽ tha thứ. Dung
đã biết trước, cha mẹ cô không dễ gì chấp nhận Ngôn. Và đó
là thành lũy mà cả hai cảm thấy quá bất lực không cách gì
vượt qua.
Từ hôm đó Dung bị cấm cung trong nhà. Thu thay thế chị
trông coi cửa hàng. Chẳng ai báo cho Ngôn hay những gì xãy ra.
Ðêm hôm sau lại đến lịch trình hẹn cách nhật của hai người.
Dung cấp tốc nhờ Thu đến điểm hẹn thông báo tình hình cho Ngôn
rõ. Trong bức thư vắn tắt cho người yêu Dung chỉ viết ba điều
thông tin cần thiết: việc nói chuyện giữa gia đình đôi bên là
ảo tưởng, trăm nghìn lần không thể thực hiện được; cuộc tình
coi như đã chết, đừng tìm cách gặp nhau nữa; lời chúc vĩnh
biệt. Nhưng Ngôn không đọc thư tại chỗ.
Nghe Thu thuật lại mọi chuyện, Ngôn đứng lặng người hồi
lâu, đầu óc như tê liệt. Mọi sự diễn tiến nhanh quá làm anh
sững sốt. Tưởng tượng những đường roi Dung phải hứng chịu, Ngôn
tưởng như da thịt mình cũng đau lây. Qua phút giây bàng hoàng,
anh kiểm điểm lại những gì mình vừa được Thu kể lại, nhất là
thái độ không dung hòa của ông Tú Diệp, và thấy một nỗi
tuyệt vọng ghê gớm ngự trị trong lòng. Anh đứng như trời trồng,
hai tay buông thỏng. Thu chưa từng thấy một hình ảnh nào tội
nghiệp hơn, ở một người trẻ hay một người già, hay một đứa
bé. Nó là hiện thân của cái gì cùng cực bên trong một con
người, cùng cực tới mức phải vỡ ra ở cái dáng điệu kia! Ngôn
thấy mình không còn gì để trông đợi, để vui sướng trên đời
này nữa. Thu bỗng thấy ái ngại cho người con trai này. Cô muốn
nói một lời gì để làm dãn bớt độ căng của sợi dây sắp đứt:
– Anh cần viết thư cho chị Dung, cứ đến chỗ em bán và kín
đáo đưa cho em. Trong khả năng của mình em nguyện sẽ làm những
gì anh giao. Thôi, em về đây.
Dung nằm liệt giường từ hôm bị trận đòn lớn nhất trong
đời con gái. Không phải cô muốn tuyệt thực, nhưng chẳng thiết
gì đến ăn uống. Mẹ cô vẫn ra vào buồng ngủ của cô thăm nom,
sợ con gái có bề gì. Nể lời mẹ, Dung phải ngồi dậy ra bàn ăn
qua loa, rồi lại vào nằm vùi. Thân thể cô đau nhừ, nhưng đó
chỉ là cái đau đớn của thể xác, cô chẳng mấy quan tâm. Cái
thương tích trong lòng mình mới là cái gì Dung thấy không dễ
lành.
Dung nghe loáng thoáng người mai mối nào đó đã đến theo
lời mời của cha cô. Lại về vấn đề viên công sứ Pháp. Dung
bỗng thấy dửng dưng, chán chường. Không lấy được người mình
yêu, thì giữa việc đi lấy một người khác chủng tộc, và lấy
một người Việt xa lạ, cô chẳng thấy có gì khác nhau. Mấy ngày
sau Dung được biết thêm một tin tức mới: duyên phận cô đã
được an bài, gia đình đã sẵn sàng đón nhận lễ dạm hỏi của
ông Russel, viên quan cao cấp nhất của Pháp tại tỉnh Quảng Nam,
trong ít ngày nữa. Dung chạnh nghĩ đến Ngôn, giờ này chắc đang
đau khổ không kém mình. Ngay từ đầu Dung đã quyết định tuyệt
nhiên không cho Ngôn biết việc gả bán của mình. Lòng anh đã
tan nát nhiều rồi, có ích chi bắt anh ấy nhận thêm cái nhát
chém độc địa này nữa. Cô đã cẩn thận căn dặn em về điều
này.
Ngôn đã đọc những lời vắn tắt trong thư Dung. Thật đã
hết rồi, không còn gì. Ngày bỗng dài lê thê và trống vắng
đến kinh khủng. Anh thử tìm quên, thử chạy trốn thực tại trong
men rượu, như những người khác từng làm. Và cơn say không giúp
anh quên mọi chuyện, chỉ dằn vặt thể xác anh thôi! Ngôn ngồi
rũ như chiếc lá héo, bên cạnh chung rượu uống dở trong chiếc
quán xiêu vẹo trong làng Gành, một xóm dân chài nằm sát Cửa
Ðại. Vạn vật quay cuồng, nhảy múa trước mặt anh, khuông mặt
người con gái chủ quán khi mờ khi rõ, thỉnh thoảng liếc nhìn anh
bỡ ngỡ. Họ gặp nhau đôi lần. Cô gái có diện mạo rất xoàng,
nếu không muốn nói xấu xí. Cô chưa hề thấy anh con trai này mua
rượu của cô bao giờ; ngoại trừ vài lần mua kẹo bánh, và nước
dừa giải khát. Ngôn khám phá một điều: men rượu làm nhòa đi
những tiểu tiết mọi vật, khiến chúng bớt xấu xí, thậm chí
khiến chúng đẹp hẳn lên. Như gương mặt người con gái bán hàng
này. Ngôn thấy cô ta có nét quyến rũ lạ thường. Ngôn không
nhớ mình đã nói gì, chỉ thấy cô ta bỏ quán đi nhanh ra ngoài.
Rồi anh thấy hai người bạn đồng thuyền bước vào, dìu anh ra về

Ngôn thức sớm hơn thường lệ. Biển xanh xám, vì mặt trời
chưa lên. Anh hít thở không khí mát mẻ bình minh, và thấy dễ
chịu một chút, tuy đầu vẫn nặng trĩu và choán váng. Anh lại
thấy lo sợ vì một ngày thật dài, thật lê thê trước mặt. Lần
đầu tiên trong đời anh say rượu, và có lẽ chỉ một lần rồi
thôi. Ðể làm gì, nếu phải tự hành hạ mình như thế! Ngôn thấy
mình phải rời bỏ nơi đây càng sớm càng hay. Một xê dịch, một
chuyển đổi không gian có lẽ là điều anh cần có để qua cơn
khủng hoảng này. Nhưng chiếc ghe anh biết đến khi nào mới nhổ
neo. Với tình hình lên xuống hàng hóa này, cộng với yếu tố
gió mùa, có nhanh lắm cũng cả tháng trời nữa nó mới nhúc
nhích. Hôm qua Ngôn vừa nghe một người bạn nói chiếc ghe Phan
Thiết nằm ở cuối bãi sẽ nhổ neo về lại bến nhà trong vòng
không tới mười hôm nữa. Ngôn đang dự định đi xa Thanh Hóa, càng
xa càng tốt. Trong nỗi đau khổ này anh không còn lòng dạ nào
về nhà, để rồi bị cha mẹ bắt lấy vợ để nối dõi tông đường,
để gia đình thêm nhân công! Và Ngôn đang manh nha trong đầu ý
định đầu quân ghe kia.
Sau khi được ghe Phan Thiết thâu nhận và biết đích xát
còn đúng năm hôm nữa rời bến, Ngôn đã viết cho Dung một bức
thư dài, trong đó anh nói về phương trời vô định, về nỗi lòng
của mình, và chúc người ở lại bình yên, may mắn, sớm quên đi
mọi buồn phiền.
Nhưng cuộc tình bất hạnh ngắn ngủi dường như cũng được
ông trời nghĩ lại ban cho một trùng hợp hiếm quí để đôi kẻ
yêu nhau có dịp tiễn biệt nhau. Dung nhẩm tính và thấy cái đêm
Ngôn nhổ neo cô cũng sẽ có mặt tại nhà chú của mình ở Phước
Trạch theo lệnh của cha mẹ để sáng sớm hôm sau kịp phụ giúp
làm cỗ đãi đám cưới trong gia đình. Dung muốn gặp người yêu
lần cuối. Và qua trung gian của Thu, hai người đã tái lập chiếc
cầu hẹn hò vào đêm biệt ly trên đồi cát gần cầu Làng Câu,
trông ra biển, một địa điểm khá tình tứ và cách xa xóm làng.
Một đêm tháng bảy không trăng, với bầu trời đầy sao,
và gió biển dìu dịu, Dung và Ngôn đã gặp bên bờ biển để từ
biệt nhau. Nói gì bây giờ, và chẳng có bao điều để nói. Ngôn
đã nắm đôi bàn tay run rẩy của Dung, đã quàng tay ra sau lưng
người con gái, ôm siết nàng. Thốt nhiên, nỗi tuyệt vọng trở
lại xâm chiếm lòng anh – một nỗi hận thì đúng hơn. Anh không
rõ mình oán hận ai. Anh chỉ biết trút tội vào duyên số. Thình
lình Ngôn bóp mạnh tay Dung và nhìn thẳng gương mặt trắng bệt
trong bóng tối nhờ nhờ của đêm. Dưới ánh sáng ban ngày thì
Dung đã có thể thấy lúc đó mắt người yêu long lanh khác
thường. Trong đầu Ngôn vừa lóe lên cái ý nghĩ táo bạo rũ Dung
trốn theo mình. Anh ngập ngừng một giây rồi bỗng lấy làm lạ
nghe giọng mình nói:
– Thôi em về đi kẻo người nhà lại biết mình ở đây.
Duyên tình mình chỉ bấy nhiêu thôi. Ở lại bình yên nhé. Cố
quên đi, đừng nghĩ đến nhau nữa.
Ngôn có cảm tưởng anh nói câu cuối để tự khuyên mình.
Dung như chợt tỉnh cơn mê với mấy lời nói chán chường của
Ngôn. Nàng không dằn được một tiếng nấc lúc nhìn cái bóng mờ
mờ của Ngôn nhòa dần về phía biển. Người con trai nghe rõ
tiếng nấc đằng sau mình, và rão bước nhanh hơn, sợ phải nghe
thêm nữa.
Trong cơn đau giã biệt, với nước mắt cứ chảy dài xuống
má, thấm mặn môi, Dung bỗng cảm thấy một thoáng nhẹ nhõm vừa
len vào lòng. Ôi còn danh dự gia đình, còn đời con gái. Dung
thầm cám ơn Ngôn đã không sai khiến mình làm chuyện đó … Cô
đã cảm thấy mình bé nhỏ, mềm nhũn, hầu như sắp tan biến trong
vòng tay Ngôn trong bóng tối đồng lõa, nói chi đến cưỡng lại
những gì anh sai khiến. Cái siết tay mạnh, cái nhìn sát gần,
dù bóng đêm đã che đậy tín hiệu của đôi mắt, cũng đủ mách
bảo trực giác con gái một điều gì, và Dung biết mình yếu đuối
chờ đợi. Nhưng điều người con gái linh cảm và dự tính trong đầu
người con trai đã không là một. Dung lau nước mắt, ngồi nấn ná
một lúc cho gương mặt trở lại sắc diện bình thường trước khi
trở về nhà chú Cam. Cô nhìn ra biển đen ngòm. Những ánh đèn
thuyền leo lét rãi rác đó đây, gần bờ, và ngoài khơi. Dung
thấy chúng nhấp nháy trong cô đơn và tuyệt vọng. Bầu trời đầy
sao. Ngôn sẽ nhổ neo đêm nay. Một người sẽ lênh đênh vô định,
một người là ván sắp đóng thuyền. Ôi đêm Cửa Ðại, đêm mịt
mùng, thăm thẳm …
Nhưng cả Cửa Ðại lẫn Dung và Ngôn đều không biết và
không ngờ rằng mấy mươi năm sau lại có một người của thế hệ
thứ ba tên là Natalie, từ một nơi xa xôi trên thế giới đã về
đây và đã làm phục hồi câu chuyện ấy trong trí mình, trong
tiếng gió biển thiên thu bất tận trên các cồn cát của làng
Phước Trạch…

Hà Kỳ Lam

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *