LÁ THƯ BERMUDA

by admin posted January 20, 2012 category Ký sự

LÁ THƯ BERMUDA

HÀ KỲ LAM

 

Tháng 8 năm 2003

 

Bạn thân mến,

Thư này tôi lại sắp kể cho bạn về một nơi xa xôi khác, hải đảo Bermuda. Tôi vừa từ đó trở về, sau một tuần nghỉ “xả hơi”. Bermuda, cái tên thì không xa lạ với tôi, cũng như với không ít người khác, dĩ nhiên trong đó có bạn nữa, như bạn đã từng nói, vì nó nằm trong trí tưởng mình từ thuở nhỏ qua những gì đã được đọc về Vùng Tam Giác Quỹ. Nhưng hy vọng những chuyện tôi sắp kể về vùng đảo đó chắc không đến nỗi nhàm chán như chuyện cũ tích xưa.

Như thường lệ, trước hết xin khái quát về “nơi chốn” rồi sau đó mới đến “nguồn cơn, tự sự”.

Đảo này nằm trong phần tây của vùng biển bắc Đại Tây Dương, cách bờ đông nước Mỹ ở điểm gần nhất (mũi Hatteras, tiểu bang North Carolina) 570 dặm (918 cây số). Về hướng tây nam của Bermuda thì quần đảo Bahamas thuộc vùng biển Caribbé là đảo kế cận gần nhất (khoảng 700 dặm, hay 1100 cây số). Ngoài hai điểm kể trên, ở các hướng khác của Bermuda có thể nói trong vòng bán kính mấy nghìn dặm không có đất liền. Tuy không nằm trong vùng biển kín Caribbé, nhưng có lẽ vì Bermuda nằm lẻ loi một mình “ngoài rìa” vùng biển đó nên các nhà biên soạn tài liệu và bản đồ du lịch có khuynh hướng giản lược nó vào chung vùng đảo Caribbé, một điều gây phẫn uất cho người dân Bermuda không ít, vì họ tự hào về đảo của họ, không muốn đồng hóa với vùng Caribbé, nhất là vùng Bahamas xô bồ, xáo trộn với vô vàn vấn đề từ kinh tế, xã hội, môi sinh, đến dị đồng chủng tộc. Một người Bermuda đã nói, “quí vị không kể Washington, D.C., là một phần của Dallas, tiểu bang Texas, thì giữa Bermuda và vùng Caribbé khoảng cách cũng như vậy.

Người Tây Ban Nha khám phá ra Bermuda hồi đầu thế kỷ thứ 16 (khoảng 1505 hay 1506, do nhà hàng hải Juan de Bermudez) nhưng người Anh lại là người chiếm lĩnh đảo làm thuộc địa từ năm 1612. Từ khi Hồng Kông được trả lại cho Trung Hoa năm 1997, Bermuda trở thành thuộc địa lớn nhất của Anh trên thế giới.

Trong toàn vùng Caribbé và trung Đại Tây Dương, Bermuda là nơi nghỉ mát lý tưởng đối với hầu hết người Mỹ. Ngoài khí hậu tốt, phong cảnh đẹp, Bermuda còn có nhiều cái “nhất” trong thiên hạ: một xứ không ô nhiễm, không có những tấm bảng quảng cáo che kín trời xanh, không có nạn vẽ bậy, không ai xả rát, không ai thất nghiệp, không ai mù chữ, không ai dùng ma túy, không có bãi biển cho người khỏa thân, cho phụ nữ để vú trần. Đó là một Bermuda muôn đời trong cái thế giới không ngừng đổi thay đến chóng mặt ngày nay.

Ngoài ba đảo lớn là Saint George, Hamilton, và Somerset, quần đảo Bermuda còn có nhiều đảo nhỏ, trong đó có một số đảo không có người ở. Tổng cộng, lớn nhỏ, Bermuda có 365 đảo! Dân số Bermuda khoảng 70, 000, trong đó dân da trắng chiếm khoảng 40% (đa số dòng dõi dân Anh) và phần còn lại là dân da đen.

Kể cả đảo lớn, đảo nhỏ, có người ở hay không người ở, Bermuda gồm 365 đảo

Đó là khái quát về Bermuda. Sau đây xin đi vào một số đặc điểm của nhóm đảo lẻ loi nhất trên Đại Tây Dương.

Câu chuyện về ba cư dân đầu tiên của hoang đảo Bermuda

Khi người Tây Ban Nha khám phá ra Bermuda vào đầu thế kỷ 16, nơi đây là một vùng đảo hoang chỉ có chim chóc ngự trị; và sau này, khai quật xương động vật trên đảo người ta còn khám phá ra rằng xương các loài có vú chỉ có từ khi người Tây Ban Nha đặt chân lên đảo. Con người bắt đầu vãng lai Bermuda từ cái mốc thời gian đó. Nhưng có ba chàng thủy thủ Anh mà danh tính đã gắn liền với lịch sử dải đất này với tư cách những cư dân đầu tiên. Đó là: Edward Chard, Christopher Carter, và Robert Waters. Họ là thủy thủ trên một chiếc tàu Anh, chiếc Sea Venture trọng tãi 300 tấn, bị bão đánh dạt vào Bermuda tháng 6 năm 1609. Câu chuyện về họ khá dài dòng, chỉ xin tóm lượt như sau.

Nhóm 10 người chúng tôi khởi hành từ New York trên chiếc du thuyền Horizon của công ty Celebrity ( hành trình dài 1 ngày 2 đêm)

Ngày 2 tháng 6 năm 1609 đoàn tàu 9 chiếc do chiếc soái hạm Sea Venture dẫn đầu khởi hành từ hải cảng Plymouth bên Anh để mang tiếp phẩm, nhân viên, và vị Tân Thống Đốc cho thuộc địa Virginia ở Bắc Mỹ. Sau hơn ba tuần lênh đênh trên biển, chỉ còn khoảng bảy ngày hải hành nữa là đoàn tàu sẽ cập hải cảng Jamestown, Virginia, thì bão biển nổi lên, chiếc soái hạm Sea Venture bị hư hại nặng, nước rỉ vào. Tàu bị dạt vào Bermuda, mắc kẹt giữa các ghềnh đá, nhưng thủy thủ đoàn đổ bộ lên đảo được. Các tàu con lạc mẹ nhưng cuối cùng đến Virginia an toàn. Thủy thủ đoàn của chiếc Sea Venture, trong đó có Đô Đốc Sir George Somers và vị Thống Đốc tương lai của Virginia, Sir Thomas Gates ở lại Bermuda, một hoang đảo không có người, chín tháng trời để đóng cho xong hai chiếc tàu khác hầu tiếp tục cuộc hành trình tới Virginia. Chính trong thời gian này, vì làm việc gian khổ, một số thủy thủ đã âm mưu nổi loạn để tự giải phóng. Ba chàng thủy thủ nêu trên có dính líu trong nhiều vụ âm mưu nổi loạn nên đã trốn vào rừng, trong khi nhiều người khác hưởng ứng lệnh khoan hồng đã tiếp tục theo tàu đến Virginia. Nhưng câu chuyện của “ba chàng ngự lâm pháo thủ” này còn được kể tiếp rằng từ khi một người trong bọn, Edward Chard, tình cờ khám phá ra báu vật, một mớ dịch vị trong bao tử của cá voi do sóng đẩy vào bờ, một chất dẽo như sáp nổi trên mặt nước, rất quí trong kỹ nghệ chế nước hoa thời bấy giờ, thì cái tình cảm gắn bó giữa ba con người trên hoang đảo cũng chấm dứt. Mớ báu vật đo, được gọi là long diên hương (nước miếng rồng) cân nặng khoảng 80 pounds – mà mỗi ounce trị giá đến 300 bảng Anh – được cả ba mang đi dấu một nơi kín trên đảo. Họ bắt đầu nghi ngờ nhau, thủ thế với nhau. Va, trong khi cả bộ ba đang nỗ lực đóng tàu để cùng nhau chở mớ báu vật sang bán bên Virginia hay Nova Scotia thì Christopher Carter phản bội, mật báo âm mưu đó với vị Thống Đốc đầu tiên đảo Bermuda vừa tới nhậm chức, Richard Moore. Báu vật bị tịch thu, Edward Chard bị tù, Waters bị trừng phạt nhe hơn. Cuối cùng, sau khi thống đốc Moore đi khỏi Bermuda, Edward Chard được tha. Chard và Waters sau này di cư sang sinh sống ở Virginia, còn Carter ở lại Bermuda cho đến hết đời, vì được ban thưởng đất đai trên đảo do “công lao” điềm chỉ nước bọt cá voi!

Những mái nhà ở Bermuda

Từ trên lan can tàu vừa cặp bờ, du khách có thể thấy cả một tập hợp những mái nhà trắng toát dưới ánh nắng ban mai chói chan. Bạn không tìm thấy một mái nhà với màu nào khác, tuyệt đối không! Đổ bộ, lang thang qua các ngỏ ngách, các góc phố đó đây, có dịp ngắm nhìn những mái nhà trắng đó gần hơn, bạn khám phá ra vài điều nữa. Màu trắng trên mái nhà là do vôi trắng, không phải một loại sơn trắng, và mái nhà nào cũng gồm nhiều đường viền nổi chạy song song với các cạnh của mái nhà; ta tạm hình dung đó là những hình tứ giác đồng tâm, nhỏ dần lên phía đỉnh mái nhà. Công dụng – không phải kiểu cách – của những đường nổi đó là dẫn nước mưa về một mối, chảy vào một nơi chứa nước đào sâu dưới hầm nhà. Vì nước

Chiếc Horizon chứa khoảng 1600 người, như một thành phố nổi. Đây là một trong những điểm giải trí về đêm trên tàu

ngọt hiếm quí ở Bermuda nên người ta đã phải nghĩ cách thu giữ nước mưa. Tôi nghĩ rằng hải đảo thì thường đi liền với nạn khan hiêm nước ngọt, nhưng có lẽ Bermuda là nơi đầu tiên có một phương pháp giải quyết nạn thiếu nước độc đáo hơn các đảo khác. Được biết ở Bermuda muốn được cấp giấy phép xây cất nhà cửa, một trong các điều lệ phải thỏa mãn là đào hầm chứa nước dưới nhà.

Về màu trắng của những mái nhà thì tôi chưa rõ có luật lệ, qui định nào của địa phương hay không. Nhưng theo vài người dân ở đây thì vôi trắng tinh khiết hơn các loại sơn, không làm ô nhiễm nước mưa hứng được, và lớp vôi phủ trên mái còn có tác dụng bảo vệ mái nhà.

Những bãi biển hồng ở Bermuda

Đó thực sự là những bãi biển hồng, tôi không nói ngoa đâu. Và tôi chưa từng thấy như thế ở một nơi nào khác mình đã đặt chân đến. Vục một nắm cát trong lòng bàn tay, bạn thấy những tinh thể màu đỏ lẫn lộn với những hạt cát trắng. Cái tổng hợp vi ti trắng đỏ trên một bề mặt mênh mông đã cho thị giác một màu hồng mịn màng khá đẹp. Một đặc điểm nữa, những hạt cát của Bermuda rất êm ái dưới bàn chân; được biết cát ở đây được tạo thành từ san hô vỡ vụn, trong khi ở các nơi khác trên thế giới cát chứa nhiều tinh thể thủy tinh hơn nên rắn và nhọn, dễ làm đau chân.

Chiếc cầu quay ngắn nhất thế giới

Chiếc cầu này có tên là cầu Somerset, nối liền đảo chính Bermuda với đảo Somerset nhỏ hơn. Cầu được xây hồi đầu thế kỷ 17, đủ rộng cho hai chiếc xe. Cầu được nối liền nhau ở chính giữa bằng một tấm

Chiếc cầu quay ngắn nhất thế giới. Mỗi khi có tàu đi qua, người ta chỉ kéo tấm ván giữa cầu lên, để cột buồm lọt qua khe hở rộng 22 inches

ván gỗ có thể kéo dựng lên và hạ xuống được. Công dụng của mảng gỗ này là để kéo lên, tạo một khe hở rộng 22 phân Anh (inches) cho cột buồm một chiếc tàu đi qua. Điều phiền toái độc nhất cho một vị thuyền trưởng thời xưa khi phải đi qua cầu này là ông ta phải dừng tàu lại, chờ một khách bộ hành tốt bụng đi qua cầu, nhờ vả đương sự kéo hộ mảnh ván cầu lên đặng chiếc cột buồm mới chui qua lọt! Ngày nay chiếc cầu quay ngắn nhất thế giới này vẫn đóng một vai trò cần thiết trong hệ thống lưu thông trên quần đảo Bermuda, nhưng chắc khoảng hở giữa cầu cho cột buồm bây giờ đã được khóa cố định vì không còn công dụng nữa.

Những chiếc quần short Bermuda

Tôi dám chắc bạn sẽ lấy làm lạ mắt khi trông thấy những “dấng trượng phu” ở Bermuda mỗi sáng chỉnh tề với sơ-mi, áo vết, cà vạt nhưng mặc quần short đến trên đầu gối vài phân, lái xe hơi, cưỡi xe

Đây là pho tượng

gắn máy hay xe đạp đến văn phòng làm việc. Ở đây, phục sức như vậy được chấp nhận trong các dịp long trọng như quan, hôn, tang, chế v.v. Truy nguyên nguồn gốc của chiếc quần Short ở Bermuda, người ta được biết lai lịch nó từ quân đội Anh đồn trú bên Ấn Độ thời xa xưa. Vì thời tiết bên Ấn Độ khá nóng bức, nên người lính Anh bên đó được cấp phát quân phục có ống quần ngắn cho thoáng mát. Và chiếc quần ngắn đó đã theo những đơn vị lính Anh sang tận Bermuda. Nhưng ở đây nó biến thể, được cắt ngắn hơn, trên đầu gối 2 phân Anh. Và nó được chấp nhận rộng rãi ở Bermuda.

Không công hầu khanh tướng, còn sống đã được tạc tượng

Một bạo chúa, một nhà độc tài, lúc sinh thời đã bắt người ta tạc tượng mình, bắt người ta suy tôn, là chuyện thường tình tự nghìn xưa tới giờ. Nhưng một kẻ cùng đinh, không có quyền lực gì ráo trọi, hiện đang còn hít thở khí trời phây phây mà lại đã được xã hội đúc tượng, dựng tại một nơi công cọng cho người người “chiêm ngưỡng” mới là chuyện đáng nói. Tôi đã gặp trường hợp khó tin mà có thật đó trên đảo Bermuda!

Và đây là “đối tượng” của pho tượng!

Người tài xế taxi đề nghị một cách nhiệt tình rằng chúng tôi nên đến gặp con người kỳ lạ nhất đảo này. Anh ta xem đồng hồ, rồi cử chỉ tỏ ra vội vàng, anh bảo, “chỉ còn 20 phút, đến 10 giờ là hắn ta biến mất.” Trên đường đi, chúng tôi được “thuyết trình” vắn tắt như sau: đó là một ông lão da đen tên Johnny Barnes, khoảng 80 nhưng còn tráng kiện. Mỗi ngày, mưa hay nắng, từ 5 giờ sáng ông đã đứng trên lề đường giữa một bùng binh cố định, giang hai tay trong dáng điệu cứu rỗi về mỗi chiếc xe chạy qua và miệng la “I love you. God bless you.” Đúng 10 giờ sáng thì ông máng túi hành trang lên vai rời “nhiệm sở” về nơi ông ở. Nghe nói hồi còn trẻ ông từng là tài xế xe buýt. Ông kiên trì làm cái công việc lạ lùng này tại bùng binh này đã hai mươi năm nay, và tuyệt nhiên không ngửa tay xin ai một đồng xu. Ai cho thì nhận. Những người lái xe buýt ngang qua đây hay biếu tiền cho ông ta.

Chiếc taxi đỗ bên vệ đường, chúng tôi nhìn sang cù lao trồng cỏ giữa một bùng binh, và thấy ông già Johnny Barnes đang đứng dang đôi tay về phía này, phía kia theo mỗi chiếc xe đến từ mỗi hướng khác nhau, và âm vang “I love you. God bless you” nghe rõ mồn một trong

Bức ảnh lưu niệm với Johnny Barnes, nhân vật độc đáo nhất đảo Bermuda

không gian huyên náo tiếng động cơ. Chúng tôi băng qua đường, tiến đến bên ông. Người tài xế nói rằng chúng tôi là du khách từ Mỹ đến, và chiều nay tàu chúng tôi sẽ rời bến về lại Mỹ. Ông Johnny Barnes liền bảo mọi người nắm tay nhau thành một vòng tròn, có cả ông nữa, để cho ông đọc kinh cầu nguyện cho mọi người về nhà bình an. Sau đó chúng tôi chụp một số ảnh ghi lại chuyến gặp gỡ kỳ thú này. Ông rút từ trong túi xách tay máng trên một cây trụ một xấp bưu cạt có hình ông đứng cạnh bức tượng của mình và tặng mỗi người trong chúng tôi một tấm. Nhìn kỹ, tôi thấy đây là loại bưu cạt bán trong các tiệm. Đằng sau tấm cạt, chỗ khung dành cho người gửi ông Johnny Barnes đẫ viết sẵn mấy dòng, “Johnny Barnes

I love you

God bless you”

Ở cuối tấm cạt, tận bên trái, một dòng chữ in nhỏ, của người sản xuất: “Johnny Barnes at Crown Lane ruondabout” (Johnny Barnes tại bùng binh Crow Lane).

Rồi chúng tôi lên xe, chạy một quãng không xa đến một công viên nhỏ, nơi đặt tượng của ông Johnny Barnes. Tượng bằng đồng đen, kích thước bằng một người thật. Tôi có khuynh hướng nghĩ rằng người ta đã làm tượng theo đúng chính xác tầm thước của ông Johnny Barnes. Phải kể đây là một công trình nghệ thuật. Tượng giống “đối tượng” từ những nếp nhăn phần trên sống mũi, giữa hai hàng lông mày đến cái miệng cười, đến đôi mắt, và đến tư thế trờ người về phía trước dang hai tay (bao giờ chân trái cũng bước tới trước). Quanh chân tượng, một chiếc bệ hình tròn, chỉ khắc dòng chữ “Spirit of Bermuda” (Tinh Thần Bermuda). Có lẽ đây là thông điệp của hải đảo Bermuda gửi cho thế giới. Và đó là tất cả những gì tôi ghi nhận về một nhân vật khá lạ lùng trên đảo Bermuda.

Tam Giác Quỹ Bermuda

Đã kể về Bermuda mà không đề cập đến Tam Giác Quỹ thì chắc chắn bạn sẽ thấy như còn thiếu một chút gì, vì từ lâu rồi nó là một thành phần bất khả phân ly trong những chuyện về vùng đảo đó. Nhưng ngày nay Tam Giác Quỹ chỉ còn là dư âm của một thời quá vãng xa xôi. Do đâu mà những câu chuyện đầy bí ẩn được kể lại từ giữa thế kỷ 19 đến nay đã làm cho vùng biển mà ranh giới được xác định một cách mơ hồ giữa bờ biển đông nam Hoa Kỳ, Bermuda và quần đảo Antilles trở thành tam giác tử thần, người dân Bermuda cũng không biết gì hơn.

Thế nhưng sử sách hàng hải thế giới còn lưu những sự việc bí ẩn đó, tuy việc điều tra, khảo sát, chứng minh lại là chuyện khác. Trên 50 tàu bè và 20 máy bay đã mất tích trong vùng biển đó. Tuy ranh giới thực sự của vùng biển mệnh danh là Tam Giác Quỹ chưa hề được thống nhất, người ta vẫn tạm xác định vùng đó là mặt biển rộng gần 2 triệu rưỡi cây số vuông nằm giữa Bermuda, Puerto Rico, và bờ biển đông nam Hoa Kỳ. Trong bao nhiêu điều bí hiểm về Tam Giác Quỹ được truyền tụng tới ngày nay, tôi xin trích ra đây 3 câu chuyện được cho là phổ thông nhất.

Năm 1881 chiếc tàu Ellen Austin của Anh tìm thấy một con tàu còn tốt, không người, trôi vô định trên biển. Thuyền trưởng ra lệnh cho một nhóm thủy thủ bước sang con tàu đó và điều khiển nó chạy về Newfoundland. Vài ngày sau, chiếc tàu “ma” đó lại xuất hiện vật vờ trên biển, và thủy thủ đoàn trên tàu Ellen Austin hết đổi kinh ngạc: con tàu lại không có người, nhóm thủy thủ tàu Ellen Austin phái sang cũng biến mất!

Tháng 2 năm 1963, chiếc thường thuyền Marine Sulphur Queen thình lình mất tích. Nhổ neo từ Bermuda thì trời đẹp, biển êm, mọi thứ trên tàu hoàn hảo. Tàu không phát một tín hiệu cấp cứu nào cả. Bí mật vẫn bao trùm quanh vụ mất tích của chiếc thương thuyền đó.

Câu chuyện được nói đến nhiều nhất vẫn là vụ mất tích của một phi đội chiến đấu của Hải Quân Mỹ năm 1945. Ngày 5-12-1945 năm chiếc phóng pháo cơ của Hải Quân cất cánh từ căn cứ Fort Lauderdale ở Florida, trong một phi vụ tuần tiễu thường lệ. Thời tiết tốt. Bay được một lát, phi tuần trưởng gọi máy báo cho biết mình bị mất phương hướng, rồi sau đó im bặt. Mọi cố gắng thiết lập liên lạc với máy bay đều hoài công. Căn cứ phái một chiếc máy bay đi tìm, nhưng chiếc này cũng mất tích luôn. Hải quân đã thực hiện một cuộc tìm kiếm 5 ngày liền, nhưng vẫn không tìm thấy dấu vết gì ráo. Cho đến ngày nay, vụ mất tích một phi đội chiến đấu và một máy bay cứu nạn vẫn là một sự việc huyền bí, thăm thẳm như lòng đại dương trong Tam Giác Quỹ.

Cho đến nay, bao nhiêu câu chuyện ly kỳ người ta truyền tụng về Tam Giác Quỹ Bermuda vẫn chưa được giải thích thõa đáng. Những đầu óc hoài nghi thì phủ bác hết, cho là những chuyện hoang tưởng. Những người tin các câu chuyện đó thì lý giải sự việc theo nhiều lối khác nhau. Có giả thuyết cho rằng vùng biển đó ngày xưa là vương quốc Atlantis bị chôn vùi, và máy móc, điện đài của nền văn minh khoa học đó vẫn còn hoạt động bên dưới đáy biển, gây nên những tai nạn cho tàu bè đi ngang qua. Một giả thuyết khác cho rằng trong lòng địa cầu dưới đáy biển đó có một từ lực làm tê liệt dụng cụ của tàu bè và phi cơ đi ngang qua vùng. Lại có một số người tin rằng vùng Tam Giác Bermuda là nơi người của hành tinh khác chọn để giăng bẫy bắt người địa cầu về khảo sát, nghiên cứu.

Bạn thân mến, hy vọng Tam Giác Quỹ Bermuda với những chuyện huyền bí, kèm theo những điều lý giải vừa kể đã đem đến cho tâm hồn vốn lãng mạn từ nhỏ của bạn những phút giây kỳ thú của những truyện phiêu lưu kể bên đống lửa hồng những đêm đông thời trung cổ.

Đó là một Bermuda như tôi đã thấy, và chắc chắn Bermuda không phải chỉ có thế. Ước mong “Lá Thư Bermuda” sẽ khơi hứng để bạn đặt chân lên sóng nước đó và đem về những cảm nhận chỉ riêng mình có…

Hà Kỳ Lam

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *